Tìm hiểu cơ bản Objective – C (P.3)

1.1.  Association References

Sử dụng tham chiếu liên kết để giả lập việc bổ sung các biến thể hiện đối tượng vào một đối tượng khác.

Việc khởi tạo một tham chiếu liên kết chủ yếu dựa trên một key, ta có thể thêm nhiều liên kết nếu ta muốn với nhiều key khác nhau, sử dụng hàm runtime của Objective-C là objc_setAssociatedObject

void objc_setAssociatedObject (id object, void *key, id value, objc_AssociationPolicy policy)

object: đối tượng nguồn của liên kết

key: khóa của liên kết. Khóa này thường là đối tượng static.

value: giá trị liên kết với khóa cho đối tượng. Đưa giá trị nil để xóa một liên kết đã tồn tại

policy: các policy cho liên kết

static char overviewKey;

NSArray *array = [[NSArray alloc] initWithObjects:@”One”, @”Two”, @”Three”, nil];

NSString *overview = [[NSString alloc] initWithFormat:@”%@”, @”First three numbers”];

objc_setAssociatedObject(array, &overviewKey, overview, OBJC_ASSOCIATION_RETAIN);

Tạo liên kết overview vào đối tượng array, ta truy xuất đối tượng liên kết overview thông qua đối tượng array và khóa

NSString *associatedObject = (NSString *)objc_getAssociatedObject(array, &overviewKey);

1.2.  Selector

Trong Objective-C, khái niệm Selector có 2 nghĩa. Nó có thể được dùng đơn giản là chỉ đến tên của một phương thức khi nó được sử dụng trong mã nguồn một thông điệp gửi đến một đối tượng. Bên cạnh đó nó còn chỉ đến một định danh duy nhất mà thay thế cho một tên khi mã nguồn được biên dịch

Selector khi được biên dịch có kiểu là SEL. Tất cả các phương thức có cùng tên thì có cùng selector. Ta có thể sử dụng một selector để triệu gọi một phương thức trên một đối tượng, điều này thể hiện khá căn bản mẫu thiết kế target-action trong Cocoa.

SEL setWidthHeight;

setWidthHeight = @selector(setWidth:Height:);

Chỉ thị @selector cho phép ta tham chiếu đến một selector được biên dịch hơn là tên một phương thức đầy đủ. Đoạn mã trên là một selector cho phương thức setWidth:Height được assign cho biến SEL là setWidthHeight.

Ở trên trường hợp ta tham chiếu đến một selector thông qua chỉ thị @selector, trong một số trường hợp ta có thể chuyển từ một chuỗi ký tự thành một selector trong thời điểm runtime bằng phương thức NSSelectorFromString.

setWidthHeight = NSSelectorFromString(aBuffer);

Và ngược lại ta có thể lấy tên phương thức từ một selector thông qua phương thức NSStringFromSelector.

NSString *method;

method = NSStringFromSelector(setWidthHeight);

Một selector đã biên dịch chị định một tên phương thức chứ không thực thi phương thức. Ví dụ, có một phương thức Display cho một lớp, có nhiều selector giống nhau cho phương thức Display ở các lớp khác, với mục đích đa hình và ràng buộc động. Nếu có một selector cho mỗi phương thức thực thi, thì một thông điệp sẽ không khác một lời gọi phương thức.

Một phương thức lớp và một phương thức thể hiện có cùng tên được assign bởi một selector. Tuy nhiên, bởi vì 2 phương thức này phân biệt domain (phạm vi lớp, phạm vi đối tượng của lớp) nên sẽ không có sự nhầm lẫn giữa 2 phương thức này.

Việc định tuyến một thông điệp truy xuất vào một phương thức chỉ thông qua một selector duy nhất, vì vậy nó đối xử như nhau đối với các phương thức có cùng selecor. Nó phát hiện kiểu trả về của phương thức và kiểu dữ liệu của các tham số thông qua selector. Vì vậy, ngoại trừ thông điệp truyền vào các bộ nhận kiểu tĩnh, còn lại với các ràng buộc động nó yêu cầu tất cả các tên phương thức thực thi phải có cùng kiểu trả về và có tham số cùng kiểu. (các bộ nhận kiểu tĩnh là ngoại lệ, trình biên dịch có thể biết về các phương thức thực thi từ kiểu lớp).

Mặc dù định danh của phương thức lớp và phương thức thể hiện là cùng một selector, nhưng chúng có thể có kiểu trả về và kiểu của các tham số khác nhau.

Ba phương thức performSelector:, performSelector:withObject:, và performSelector:withObject:withObject:, định nghĩa trong protocol NSObject lấy các định danh SEL như là các tham số khởi tạo. Tất cả các phương thức này ánh xạ trực tiếp vào thông điệp phương thức. Ví dụ:

[friend performSelector:@selector(gossipAbout:) withObject:aNeighbor];

Tương đương với

[friend gossipAbout:aNeighbor];

Hoặc ví dụ:

id   helper = getTheReceiver();

SEL  request = getTheSelector();

[helper performSelector:request];

Các phương thức có thể biến đổi tại thời điểm runtime, như ở trên bộ nhận helper được chọn thông qua phương thức getTheReceiver và bộ nhận này được yêu cầu thực hiện phương thức request thông qua phương thức getTheSelector tại thời điểm runtime.

Lưu ý, khi một bộ nhận buộc phải thực hiện một phương thức mà không thuộc phạm vi của mình thông qua selector thì đương nhiên sẽ xuất hiện lỗi. Vì những công việc này thực thi ở thời điểm runtime nên hiển nhiên lỗi sẽ chỉ xuất hiện tại thời điểm chương trình được thực thi.

 

1.3.  Xử lý ngoại lệ

@try {

}

@catch (CustomException *ce) {  // 1

}

@catch (NSException *ne) {  // 2

// Perform processing necessary at this level.

}

@catch (id ue) {

}

@finally {  // 3

// Perform processing necessary whether an exception occurred  or not.

}

  • Bắt các kiểu ngoại lệ cụ thể nhất
  • Bắt các kiểu ngoại lệ chung

1.4. Quản lý bộ nhớ

1.4.1.     Các nguyên tắc quản lý bộ nhớ

Nguyên tắc cơ bản

  • Khi bạn nắm quyền sở hữu một đối tượng, khởi tạo đối tượng bằng các phương thức mà trong tên bắt đầu với với alloc hoặc new hoặc copy (ví dụ, alloc, newObject hoặc mutableCopy…) hoặc gửi một thông điệp retain, bạn phải có trách nhiệm giải phóng quyền sở hữu đối tượng đó bằng cách sử dụng release hoặc autorelease. Bất kỳ khi nào bạn nhận được một đối tượng (không phải tự mình khởi tạo), bạn không được release nó.

Các nguyên tắc khác

  • Khi bạn cần lưu trữ một đối tượng được nhận như một property trong một biến thể hiện, bạn phải retain hoặc copy nó. (Điều này không đúng cho cho tham khảo yếu, nhưng đây là điển hình hiếm).
  • Một đối tượng được nhận thường đảm bảo vẫn có hiệu lực trong phương thức mà nó đã được nhận (ngoại trừ trong các ứng đa luồng và vài trường hợp Distributes Objects). Phương thức đó có thể trả về an toàn đối tượng mà nó được triệu gọi. Sử dụng retain trong việc kết hợp với release hoặc autorelease khi cần thiết để bảo vệ một đối tượng khỏi hiệu lực của các thông điệp không hợp lệ bên ngoài.
  • autorelease có nghĩa là “gửi một thông điệp release sau đó

1.4.2.     Vấn đề khi khởi tạo đối tượng

Xét đoạn code khởi tạo đối tượng sau

TestClass *ptr = [TestClass alloc];

[ptr init];

// Do something with the object

if (ptr)

Thoạt nhìn qua có vẻ vô hại, phương thức alloc khởi tạo một vùng nhớ cho đối tượng ptr, sau đó gửi thông điệp gọi phương thức init cho đối tượng ptr, lỗi có thể xảy ra ở đây. Giả sử dòng lệnh ở dòng lệnh [ptr init], phương thức init có lỗi xảy ra và trả về nil, tiếp theo ở dòng lệnh if, lúc này ptr vẫn khác nil mặc dù phương thức init trả về nil (nhưng nó không được gán cho ptr), dẫn tới ý nghĩa của phương thức tạo thực sự không còn nữa.

Khi đó, đoạn code sau sẽ giải quyết được khả năng lỗi ở trên

TestClass *ptr = [[TestClass alloc] init];

// Do something with the object

if (ptr)

Giả sử init có lỗi và trả về nil thì ptr vẫn sẽ được gán là nil, do đó dòng lệnh if sẽ thực hiện đúng ý nghĩa của nó.

Ý nghĩa từ ví dụ này đó là, ta luôn luôn phải trả về nil trong phương thức init nếu có lỗi khởi tạo xảy ra và lưu ý phải kết hợp 2 lời gọi phương thức alloc và init.

1.4.3.     Release

Nếu bạn khởi tạo một đối tượng sử dụng cách thủ công alloc, bạn cần phải release đối tượng sau đó. Bạn không nên thực hiện release thủ công một đối tượng autorealse bởi vì ứng dụng có thể sẽ bị crash nếu bạn làm điều đó.

// string1 will be released automatically

NSString* string1 = [NSString string];

// must release this when done

NSString* string2 = [[NSString alloc] init];

…..

[string2 release];

1.4.4.     Retain

Trong Objective-C, mỗi đối tượng có một bộ đếm được sử dụng để kiểm soát tất cả các tham chiếu bởi đối tượng hoặc nó có.

Để biết được giá trị của bộ đếm này ta sử dụng thuộc tính retainCount [object retainCount]. Phương thức alloc, new, copy và retain đều tăng bộ đếm này lên 1 và phương thức release giảm bộ đếm này đi 1, khi bộ đếm có giá trị bằng 0 thì phương thức dealloc của đối tượng sẽ được gọi.

Bất cứ khi nào một đối tượng có nhu cầu được sử dụng bởi một đối tượng khác nó phải retain để tăng bộ đếm retainCount lên 1, và khi nó không còn sử dụng nữa thì phải release để giảm bộ đếm retainCount đi 1. Khi bộ đếm có giá trị bằng 0 có nghĩa là nó không còn nhu cầu để sử dụng nữa, nó sẽ tự hủy bằng phương thức dealloc.

1.4.5.      Dealloc

Phương thức dealloc được gọi khi đối tượng đang được remove khỏi bộ nhớ. Nó thường được sử dụng nhất khi giải phóng tất cả các tham chiếu của các biến thể hiện con của đối tượng khỏi bộ nhớ. Hay nói cách khác, một lớp nếu có các biến thể hiện là các đối tượng thì trong phương thức dealloc của lớp phải thực hiện giải phóng các biến thể hiện này.

– (void)dealloc {

[childVar1 release];

[childVar2 release];

[super dealloc];

}

Phương thức [super dealloc] được sử dụng để thông báo cho lớp cha thực hiện việc “dọn dẹp” (đây là phương thức được định nghĩa trong NSObject), nếu không gọi phương thức này, có thể đối tượng sẽ không được remove khỏi bộ nhớ, sẽ gây nên tình trạng chiếm bộ nhớ.

#import <Foundation/Foundation.h>

#import “Address.h”

@interface Person : NSObject {

Address* address;

}

-(Person*) constructor: (Address*) add;

-(void) show;

@end

#import “Person.h”

@implementation Person

-(Person*) constructor: (Address*) add{

self = [super init];

if(self){

address = add;

}

return self;

}

-(void) show{

printf(“Person: \n”);

printf(”   — “);

[address show];

}

-(void) dealloc{

printf(“Dealloc method of Person\n”);

[address release];

[super dealloc];

}

@end

#import <Foundation/Foundation.h>

#import “Person.h”

#import “Name.h”

@interface VNPerson : Person {

Name* name;

}

-(VNPerson*) constructor: (Address*) add : (int) idn;

@end

#import “VNPerson.h”

#import “Name.h”

@implementation VNPerson

-(VNPerson*) constructor: (Address*) add : (int) idn{

self = [super constructor: add];

if(self){

name = [[Name alloc] constructor: idn];

}

return self;

}

-(void) show{

[super show];

printf(”   — “);

[name show];

}

-(void) dealloc{

printf(“Dealloc method of VNPerson\n”);

[name release];

[super dealloc];// Mục đích giải phóng biến thể hiện address trong lớp cha

}

@end

#import “Address.h”

#import “VietnamAddress.h”

#import “Person.h”

#import “VNPerson.h”

int main(int argc, char *argv[]) {

Address *address = [[Address alloc] constructor: 01 : 02];

[address show];

VietnamAddress *vnaddress = [[VietnamAddress alloc] constructor: 03 : 04];

[vnaddress show];

[vnaddress changeAddress: 05];

Person *person = [[VNPerson alloc] constructor: address : 1915];

[person show];

[address release];

[vnaddress release];

[person release];

return 1;

}

Lưu ý: Phương thức dealloc sẽ không được gọi trong trường hợp bộ dọn rác được bật.

1.4.6.     Tham chiếu yếu

Retain một đối tượng tạo ra một tham chiếu “mạnh” đến đối tượng đó. Một đối tượng không thể dealloc cho tới khi tất cả các tham chiếu mạng được giải phóng hết.

Trong một số trường hợp, ta có thể muốn có một tham chiếu đến đối tượng mà không cản trở việc đối tượng tự giải phóng chính nó, lúc này ta có thể thiết lập một tham chiếu “yếu” đến đối tượng.

Một tham chiếu yếu được tạo ra bằng cách chứa một con trỏ trỏ đến một đối tượng mà không retain đối tượng đó. Tham chiếu yếu rất cần thiết trong việc thiết lập các tham chiếu vòng. Ví dụ, đối tượng A và đối tượng B cần trao đổi thông tin với nhau nên mỗi đối tượng cần một tham chiếu đến đối tượng kia (ví như mới quan hệ giữa 2 đối tượng cha – con), nếu như chúng ta retain đối tượng kia khi thiết lập tham chiếu thì mỗi đối tượng chỉ được dealloc khi nào kết nối này đứt, tuy nhiên kết nối này chỉ đứt khi có một đối tượng được dealloc mà thôi. Trong trường hợp này ta thấy được lợi ích của tham chiếu yếu.

Chúng ta phải thật cẩn thận khi truyền thông điệp trong tham chiếu yếu, trong trường hợp đối tượng nhận thông điệp đã dealloc thì ứng dụng có thể sẽ bị crash. Đồng thời, trong mối quan hệ tham chiếu yếu, đối tượng được tham chiếu đến phải có trách nhiệm báo cho đối tượng kia biết khi nó thực hiện dealloc, ví dụ gửi một thông điệp setDelegate: với tham số nil cho đối tượng kia chẳng hạn, trong trường hợp đối tượng dealloc là một Delegate của đối tượng nhận thông điệp.

  1. Để lại bình luận

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: