Quản lý điểm thi của một trường ĐH (P.3)

  • Đến giai đoạn này, sau khi đã có bản đặc tả yêu cầu, chúng ta sẽ bắt tay vào phân tích hệ thống trên
  • Có hai phương pháp phổ biến để tiếp cận yêu cầu, phân tích hệ thống này, đó là: phương pháp phân tích cấu trúc và phương pháp hướng đối tượng

Thông tin về 2 phương pháp này (trích giáo trình UML của thầy Nguyễn Thanh Bình – Trung tâm CNTT- Đại học Huế -HITEC-)

  • Phương pháp cấu trúc còn được gọi là phương pháp cổ điển, phương pháp này được nhìn nhận dưới sự phức tạp của các chức năng của hệ thống. Chức năng được phân rã theo một hệ thống cấu trúc nhất định do người phân tích hệ thống đưa ra (cấu trúc phân nhánh, lặp…).Bao gồm mô hình quá trình chức năng cũng như các mô hình dữ liệu. Sự liên kết giữa hai mô hình dữ liệu này còn đơn giản qua các mối liên kết và luồng thông tin từ quá trình chức năng này sang chức năng khác
  • Ưu điểm: Phân rã được chức năng, quá trình hoạt động phần mềm được thực hiện từng bước như thế nào, khá đơn giản và dễ hiểu
  • Nhược điểm:

– Sự tách biệt giữa mô hình chức năng và mô hình dữ liệu dẫn đến những chức năng hoàn toàn giống nhau nhưng xử lý những kiểu dữ liệu khác nhau phải được viết lại liên tục.

– Thiếu linh động, phí phạm mã, khó mở rộng, khó thích nghi của phầm mềm xây dựng dựa vào phương pháp này.

– Việc dựa vào cấu trúc của quá trình chức năng dẫn đến khi chức năng hệ thống thay đổi, cấu trúc ấy có thể bị thay đổi rất nhiều, thậm chí phải thay đổi toàn bộ


  • Phương pháp hướng đối tượng: Phương pháp này xác định rằng, cấu trúc thông tin trong hệ thống thông tin là ít thay đổi.Thế giới xung quanh dưới dạng đối tượng rời rạc. Phương pháp đưa ra khái niệm đối tượng để mô tả thông tin. Giới thiệu thêm mối quan hệ kế thừa cha con. Các chức năng được xây dựng trên hệ cấu trúc đối tượng nhờ sự kết hợp thông tin và chức năng trên cấu trúc đối tượng
  • Ưu điểm:

– Tăng cường tính sử dụng: qua mối liên kết kế thừa, không chỉ những hành vi, đoạn mã được tái sử dụng mà cả những thông tin tĩnh của lớp cha cũng được lớp con tái sử dụng.

– Tăng cường tính mở rộng: việc mở rộng chức năng có thể được thực hiện qua việc tạo lớp con. Vì vậy không ảnh hưởng đến cấu trúc thông tin đã có. Hơn thế nữa phần mềm trở nên linh động hơn hẳn.

  • Nhược điểm

–          Do dựa vào cấu trúc thông tin thay vì chức năng. Nếu cấu trúc này thay đổi (lĩnh vực ứng dụng thay đổi) thì việc xây dựng lại một hệ thống khác là không tránh khỏi. Do đó phương pháp này thiếu sự linh động với sự thay đổi của thông tin

Trong bài viết này chúng ta sẽ sử dụng phương pháp hướng đối tượng để tiếp cận hệ thống, do đó chúng ta cần phải có những kiến thức nhất định về lý thuyết hướng đối tượng: lớp, đối tượng, trừu tượng hóa, cụ thể hóa, kế thừa,…

Mục đích của bài viết là sử dụng ngôn ngữ hình thức UML để phân tích hệ thống, do đó chúng ta sẽ điểm qua một số kiến thức ccơ bản về UML

MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ UML
Unified Modeling Language

1.UML là gì

  • UML là một cách phân tích và thiết kế mô hình theo hướng đối tượng
  • Hiểu theo cách thông thường, UML bao gồm các mô hình đặc trưng cho việc phân tích và thiết kế
  • UML không phải là một phương pháp, đơn thuần nó chỉ là một ngôn ngữ kí hiệu
  • Là một tập các kí hiệu
  • Là một tập các luật (cú pháp, ngữ nghĩa, kiểm tra) cho việc sử dụng các kí hiệu
  • Dùng để hiển thị, đặc tả, xây dựng, làm tài liệu
  • UML được tạo ra việc mô hình hướng đối tượng
  • Hướng đối tượng sản sinh ra các mô hình thể hiện một lĩnh vực:
  • Một lĩnh vực kinh doanh, ví dụ như banking
  • Các thuật ngữ và đối tượng của lĩnh vực (ví dụ, tiền, séc)
  • UML có thể được sử dụng để mô hình nhiều kiểu hệ thống khác nhau

2.Mục tiêu của UML

  • Cung cấp cho người sử dụng một ngôn ngữ mô hình hoá trực quan có sẵn và gợi tả (ready to use, expressive ), để người sử dụng có thể phát triển và thay đổi các mô hình một cách hiệu quả
  • Cung cấp các kỹ thuật chuyên môn mở rộng để mở rộng các khái niệm cốt lõi (core concepts)
  • Độc lập với các ngôn ngữ lập trình riêng biệt (particular) và các tiến trình phát triển

3.Những điểm ngoài phạm vi UML

  • UML không là một phương thức
  • UML không xác định/hướng vào (address) toàn bộ quá trình
  • UML không quy định cách tiếp cận vào việc xác định các lớp,các phương thức và phân tích các mô hình…
  • •UML không bao gồm bất kỳ quy tắc thiết kế hay cách thức giải quyết vấn đề nào

4.Các thành phần của UML

  • Trong hình là các thành phần cơ bản của UML, chúng ta sẽ gặp và đề cập đến trong phần phân tích hệ thống quản lý điểm thi

  • Trong hình là 4+1 hướng nhìn của UML
  • User model View (Use Case View hoặc Scenario View)- thể hiện các vấn đề và các giải pháp liên quan đến chức năng tổng quát của hệ thống.
  • Structural model View (static hoặc Logical View)- thể hiện các vấn đề liên quan đến cấu trúc thiết kế của hệ thống.
  • Behavioral model View (Dynamic, Process Concurrent, hoặc Collaboration View) thể hiện các vấn đề liên quan đến việc xử lý giao tiếp và đồng bộ trong hệ thống.
  • Implementation model View (Component View) thể hiện các vấn đề liên quan đến việc tổ chức các thành phần trong hệ thống.

Environment model View (Deployment View) thể hiện các vấn đề liên quan đến việc triển khai hệ thống.

  • Trích giáo trình UML của thầy Nguyễn Thanh Bình – Trung tâm CNTT- Đại học Huế -HITEC
  • Ở phần sau ta sẽ phân tíchthiết kế hệ thống này

,

  1. Để lại bình luận

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: